Thứ Hai, 28 tháng 5, 2012 | By: Trần Thủy

Những vấn đề liên quan tới hai Tâm trí và hai Ý chí của Chúa Giêsu

Hiểu thế nào về hai Tâm trí và hai Ý chí nơi Chúa Giêsu?

Hai tâm trí và hai ý chí: Qua cuộc làm người, Con Thiên Chúa có thể suy nghĩ và ước muốn theo kiểu loài người. Ngài kinh nghiệm, suy nghĩ, quyết định và hành động theo cách của con người. Tuy nhiên, tâm trí nhân loại của Người không độc lập đến nỗi cấu thành một ngôi vị khác. Người có hai “tâm trí”, nhưng không phải là hai ngôi vị.
Một số cho rằng khi Chúa Giêsu đã thuộc về bản chất con người của mình, Ngài sở hữu hai tâm trí, tâm trí con người và tâm trí của Thiên Chúa, với tâm trí con người chịu trách nhiệm về kiến ​​thức của mình chứ không phải là tâm trí của Thiên Chúa. Những người khác cho rằng Chúa Giêsu đã có một tâm trí, nhưng tâm trí đó ở trong thân xác phải chết [1]...
Công đồng Constantinople III: Chống lại Monothelites, Công đồng khẳng định Đức Kitô có hai ý chí, hai năng lực, hay hai cách hành động. Hai ý chí này không bao giờ tách rời nhau, nhưng hoàn toàn hài hoà với nhau. Điều này cũng áp dụng cho tri thức của Người. Hai bản tính kéo theo hai tâm trí, không tách rời, nhưng khác biệt.

1. Hai tâm trí: Hai tâm trí khác nhau một trời một vực, không cùng loại: một vô biên, một được tạo dựng ở một thời điểm nhất định. Nên không phải là Người giống như những người đa nhân cách. Đây là trường hợp bệnh lý, và hai tâm trí đều ở trật tự thụ tạo.
Với cuộc làm người, Ngôi Lời Thiên Chúa bắt đầu biết ngang qua hai hệ thống nhận thức (cognitive systems). Hai “hệ thống” này không tương ứng nhau, không thuộc cùng loại. Hệ thống nhận thức nhân loại phải thu thập kiến thức, từ từ và khó nhọc. Tâm trí thần linh đơn thuần là chỉ biết tất cả cách trực tiếp và tự đời đời, không qua thời gian.
Tâm trí nhân loại có thể bị “tắt điện” khi ngủ, vô thức. Tâm trí thần linh không bao giờ tắt.
Ngôi Lời, qua “tâm trí thần linh” của mình, biết đầy đủ và sở hữu hoàn toàn tâm trí nhân loại của Chúa Giêsu như là tâm trí mình. Không có điều ngược lại. Tâm trí thần linh có thể truy cập tới tâm trí nhân loại, mà không ngược lại.
Tâm trí nhân loại của Chúa Giêsu có hưởng phúc kiến diện đối diện với Thiên Chúa? Chúa Giêsu sống bằng phúc kiến chứ không bằng đức tin? (x. ST 3a.3.10.ad.2). Các khó khăn:
* Làm sao Người có thể đau khổ nếu có phúc kiến?
* Làm sao Người có thể tự do trong ý chí nhân loại? Để tự do, cần phải có giới hạn của kiến thức và sự không chắc chắn về tương lai.
* Chúa Giêsu chiến đấu, chống cám dỗ để luôn vâng phục Cha (Mc 1,12-13; 14,32-42; Lc 22,8; Dt 2,18; 4,15). Nếu Người hưởng phúc kiến thì đâu cần phải chống trả cám dỗ. Vậy những thử thách của Ngài không thật sự là thử thách, mà chỉ để trình diễn, nêu gương cho chúng ta.
* Phúc kiến theo định nghĩa của Tôma là bao gồm một cái biết toàn diện về mọi thụ tạo và mọi điều chúng có thể làm. Vậy Chúa Giêsu không có một tri thức nhân loại thực sự, vốn phải lớn dần lên qua kinh nghiệm, và luôn có giới hạn?
* Ngài có kiến thức đó ngay từ lúc thành thai? Kiến thức phải tương ứng với não bộ. Khi Ngài còn là đơn bào, thì làm sao có được kiến thức quá siêu vượt như thế?
* Tin mừng nhất lãm nói về các giới hạn thông thường của kiến thức nhân loại của Chúa Giêsu (Mc 5,30-32; 6,6). Ngay cả thánh Cyril Alexandria (+444, cổ võ thần tính của Chúa Giêsu) cũng hiểu câu “Ngài lớn lên trong sự khôn ngoan và trong tuổi tác” (Lc 2,52) theo nghĩa đen.
* Công đồng Chalcedonia: bản tính nhân loại của Đức Kitô bảo toàn các đặc tính riêng của nó (DH 302). Vậy tri thức nhân loại của Chúa Giêsu không thể vượt giới hạn thụ tạo. Phúc kiến sẽ nâng tri thức của Đức Kitô vượt lên giới hạn thông thường của tri thức nhân loại [2].

2. Hai ý chí: Kinh thánh, nhất là Tân Ước gán cho Đức Giêsu có nhân đức vâng lời, là mặc nhiên nhận Ngài có ý chí nhân loại. Thực ra, nhiều lần chính Đức Giêsu (hay là Thánh trước) phân biệt rõ nơi Ngài có hai ý chí: ý chí Thiên Chúa và ý chí nhân loại và ý chí sau phải phục tùng ý chí trước. Ngài đã phán: “Ta luôn luôn làm điều đẹp ý Đức Chúa Cha”, (quae placita sunt et facio simper: Ga 9,29), “của ăn Ta là thực hiện ý muốn của Đấng sai Ta” (Ga 4,34). “Ta không tìm ý muốn Ta, mà chính là tìm ý muốn của Đấng sai Ta” (Ga 5,30)…
* Hai ý chí có vẻ xung đột: Lúc Ngài cầu nguyện trong vườn Cây Dầu, với bao nhiêu u sầu trước thần chết gần đến: “nếu có thể, lạy Cha, xin Cha cất chén này để con khỏi uống. Nhưng xin đừng theo ý con mà theo như Cha muốn …Lạy Cha, nếu vì lẽ nào mà con phải uống chén đó, con xin làm theo ý Cha” (Mt 26,39-42). Điều đáng chú ý ở đây là cuộc chiến đấu giữa hai ý chí làm nổi bật lưỡng ý nơi Ngài. Thực ra, không lúc nào ta thấy hai vật khác nhau cho bằng lúc ta thấy chúng đối lập nhau, mà sự đối lập giữa hai ý chí trong trường hợp nói trên, lại còn thêm tính cách bi kịch, cho rằng tấn bi kịch đó đã kết liễu bằng cuộc thắng trận của ý chí Thiên Chúa.
* Ý chí tự do và lệnh truyền Ngài phải chết: Trong Thánh Kinh, có chổ nói: Đức Chúa Cha bắt buộc Ngài phải chết để cứu chuộc nhân loại. Trong trường hợp này Ngài không thể trốn tránh. Và Ngài củng không thể chọn cách đền tội khác, vì như thế, chắc chắn Ngài xúc phạm tới Thiên Chúa. Ngài cũng đã không tự do chọn cái chết, và như thế, cũng chẳng có công gì do cái chết đó.
* Vậy, phải giải quyết thế nào? Thánh Anselmo giải quyết bằng cách gắn liền cái tự do nơi Chúa Giêsu vào ý chí Thiên Chúa của Ngài[3], nghĩa là chính Ngôi Hai Thiên Chúa chọn cái chết. Giải quyết như thế là sai và không đủ. Nhiều nhà thần học khác phủ nhận ơn hưởng kiến nơi Chúa Giê-su để phòng thủ tự do của Ngài (ý kiến của Gunther). Ý kiến này cũng sai. Phái Jansenius lại chủ trương Chúa Giêsu chịu chết là một hành vi ý chí, tuy khẩn thiết, nhưng vẫn có công vì sự khẩn thiết đó không khử trừ công trạng ra ngoài. Trừ những ý kiến sai lạc trên này, mà các nhà thần học chính tông không thể nhận được, còn có những ý kiến có thể nhận được, cố gắng dung hòa tự do và lệnh chịu chết nơi Chúa Giêsu.
* Nhiều nhà thần học chối trắng rằng không có lệnh tuyệt đối, chỉ có một ý muốn ước ao cho Chúa Giê-su chịu chết. Nói cách khác, ý muốn của Thiên Chúa trong trường hợp này chỉ là ý muốn có điều kiện và dĩ hậu, nghĩa là ra lệnh nhưng với điều kiện là Chúa Giê-su nhận. Ý kiến khác cho rằng, thực có lệnh, nhưng lệnh đó chỉ buộc một khi Chúa Giê-su đã nhận lời tuân giữ. Nói khác đi, chính Chúa Giêsu xin với Cha Ngài ra lệnh cho Ngài chịu chết. Nhưng chỉ phiền là lời xin đó không thấy ghi trong Tân ước. Trái lại, thánh Phaolô (Rm 8,32) lại chủ trương khác hẳn khi cho là chính Ngôi Cha đã không tha cho Con một, lại đem phó nộp để đền tội cho ta. Ý kiến nữa cho rằng, Chúa Giêsu chỉ phải tuân lệnh cách chung vậy thôi, còn những chi tiết Ngài chịu chết cách nào không gồm trong lệnh đó, nên Ngài còn tự do chọn. Phải nghĩ thế nào?
* Vào thế kỷ thứ 7, một số tín lý gia và vị Giám mục (Sergios, Cyros) với cùng một ý hướng như Apollinario đã đề cao sự thánh thiện tuyệt vời nơi Chúa Giêsu và duy nhất giữa hai bản tính nơi Ngài. Các tín lý gia và Giám mục ấy chủ trương rằng nơi Chúa Giê-su không có một ý chí nhân loại, cũng không có một hoạt động nhân bản riêng biệt. Theo họ, ý chí thần linh và hoạt động thần linh của Ngôi Lời giữ địa vị và vai trò thay thế cho ý chí và hoạt động nhân loại. Trong lịch sử tín lý Kitô giáo, người ta quen gọi những quan niệm đó là “nhất chí thuyết” (monothelismc) và “nhất năng thuyết” (mononergisme). Nguy hiểm của thuyết này là Ngôi Lời không làm người đích thực. Đã là người phải có năng lực riêng và ý chí tự do thuộc loài người: Ta biết,  Chúa Giêsu có hai năng lực và hai ý chí (nhân loại và Thiên Chúa). Ý chí nhân loại vẫn còn tự phát và tự do trong Chúa Giêsu, nhưng do sự liên kết Ngôi Hiệp, ý chí nhân loại hoàn toàn phụ thuộc sự toàn năng của Ngôi Lời. Do đó, chính Ngôi Lời đã thúc đẩy ý chí nhân loại và phát khởi các hoạt động nhân loại nơi Chúa Giêsu. Như thế, không có nghĩa là sự tự do của ý chí nhân loại nơi Chúa Giêsu bị tiêu diệt, vì chính Ngôi Lời muốn hoạt động bằng một ý chí nhân loại tự do nơi bản tính nhân loại của mình theo những định luật của bản tính nhân loại, mà theo những định luật đó thì ý chí con người phải hoạt động cách tự do, không thể hoạt động cách máy móc[4].
*Công đồng Constantinople III nhấn mạnh hai ý chí khác nhau, nhưng hoàn toàn hài hoà với nhau. Khẳng định này là do Tân Ước nhấn mạnh Chúa Giêsu thực tế (de facto) là hoàn toàn vô tội, vâng phục Cha (Dt 4,15; 5,8; Ga 8,46).
* Công đồng Chalcedoine và Công đồng thứ sáu Constantinople (năm 680-681) đã khẳng định: “Căn cứ vào giáo lý của các Thánh Giáo phụ, chúng tôi tuyên xưng rằng Đức Kitô có hai ý chí và hai khả năng hành động không chia cách, không chuyển đổi, không phân chia, không lẫn lộn. Và hai ý chí này không chống đối nhau, như những kẻ lạc giáo đề xuất” (DS 556-559).
Từ tín điều này, giáo lý của Giáo Hội như ngầm khẳng định rằng: Đức Kitô có một ý chí nhân bản và ý chí nhân bản của Đức Kitô rất tự do. Libertas contrarietatis có nghĩa là tự do chọn lựa giữa tốt xấu không thể có nơi Người nên Người không thể là chủ thể của tội lỗi được. Bởi đó, Đức Kitô không có khả năng phạm tội[5].


                                                                TG: Thủy Trại Lau



[1] Richard Swinburne Thiên Chúa của Kitô giáo, p. 201^ [3] ^. 201.
[2] International Theological Commission (1979, 1981, 1983); Pontifical Biblical Commission (1984); CCC (1992).
[3] Cur Deus homo 2, 17, P. L. 158. 419.
[4] Lm. Fx. Tân Yên, Đức tin của tôi, dành cho giới trẻ, trang 102-203.
[5] x. LUDWIG OTT, Tín lý, Tập1, Nguyễn Văn Trinh dịch, Đại chủng viện thánh Giuse, 2003, trang 298.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét